|
Vẹo cổ (torticollis) là một chứng bệnh thường gặp ở cả trẻ em và
người lớn, gây đau đớn vùng cổ vai và đặc biệt tác động đến tâm lý do
thẩm mỹ người bệnh nhất là ở nữ giới.
1. Nguyên nhân.
Từ trước tới nay, vẹo cổ đã được các tác giả trên thế giới phân loại ra các thể như sau:
- Vẹo cổ bẩm sinh: do dị tật của cơ ức - đòn - chũm, thường được phát hiện ở tuổi học trò và chỉ điều trị được bằng phẫu thuật.
- Vẹo cổ chấn thương: do sai khớp hoặc gãy đốt sống cổ thành mảnh.
- Vẹo cổ dạng thấp: thường khởi phát do nhiễm lạnh và xuất hiện đột ngột bởi triệu chứng đau cổ dữ dội.
- Vẹo cổ co thắt: được biểu hiện bằng các triệu chứng đặc trưng như
các vận động xoắn vặn cổ về một bên, bao giờ cũng về bên đó, do trạng
thái co cơ, tăng nhanh trương lực và rung giật các cơ cổ, buộc cổ phải
nghiêng về phía cơ co cứng, đồng thời xuất hiện các cơn co thắt cơ trong
một vài giây. Giữa các cơn, đầu lại trở về tư thế vẹo cổ ban đầu. Căn
nguyên của vẹo cổ co thắt rất phức tạp, có thể do nguồn gốc não, biểu
hiện rối loạn trương lực cơ tư thế; nguồn gốc cơ (viêm cơ); nguồn gốc
xương hay xương khớp (tổn thương cột sống cổ thường được xác định bằng X
quang; căn nguyên tâm lý (chứng máy cơ (tic) tâm căn (grasset).
- Vẹo cổ cấp: Đây là một thể đặc biệt của hội chứng cổ cục bộ do đĩa
đệm, hư xương sụn cột sống cổ, đặc trưng bởi hai triệu chứng cơ bản là
tư thế sai lệch và hạn chế vận động cột sống cổ. Bệnh thường hay xảy ra ở
tuổi thiếu niên và thanh niên, nó được coi như một thể sớm của bệnh đĩa
đệm cột sống cổ.
|
|
|
1. Lâm sàng.
1.1. Hội chứng cột sống cổ.
- Đau cổ gáy: có 3 kiểu biểu hiện:
+ Đau cổ gáy cấp tính: Hay vẹo cổ cấp, xuất hiện sau một đêm ngủ dậy
do gối đầu lệch hoặc sau lao động nặng, mệt mỏi, căng thẳng, lạnh...
thấy đau vùng gáy một bên lan lên cùng chẩm. Thường khỏi sau vài ngày và
hay tái phát.
+ Đau vùng gáy mạn tính: Đau âm ỉ khi tăng khi giảm, lan ít, khó vận
động một số động tác vì đau, đôi khi thấy lạo xạo khi quay cổ.
+ Có điểm đau cột sống cổ: ấn vào các gai sau và cạnh cột sống cổ tương ứng các rễ thần kinh có thể tìm thấy điểm đau.
- Hạn chế vận động cột sống cổ: đau làm đầu vẹo sang một bên không quay về bên kia được do cơ bên đau bị co cứng phản xạ.
1.2. Hội chứng rễ thần kinh.
- Do thoái hóa hoặc thoát vị đĩa đệm chèn ép các rễ thần kinh thuộc
đám rối thần kinh cánh tay, chủ yếu là rễ C5-C6. Đau vùng gáy âm ỉ tăng
từng cơn nhất là về đêm, lan lên vùng chẩm và xuống vai và cánh tay.
Biểu hiện lâm sàng là hội chứng vai-gáy, hoặc hội chứng vai-cánh
tay.Thường đau sâu trong cơ, xương với cảm giác nhức nhối khó chịu, có
khi đau nhói như điện giật. Đau cổ thường giảm nhanh trong khi đau vai
và tay thì ngày một tăng. Đau có tính chất cơ học, đau tăng khi đứng,
đi, ngồi lâu, khi ho, hắt hơi, khi vận động cột sống cổ; đau giảm khi
nghỉ ngơi, khi kéo giãn cột sống cổ...
- Rối loạn vận động, cảm giác kiểu rễ: bại một số cơ chi trên như
dạng vai (C5), bại gấp cẳng tay (C6), bại duỗi cẳng tay (C7), bại gấp
các ngón tay (C8). Có thể kèm theo hiện tượng giật bó cơ khi bị teo cơ
rõ. Tê một vùng ở cánh tay, cẳng tay, bàn ngón tay. Định khu của hiện
tượng giảm cảm giác tùy thuộc vào rễ thần kinh bị chèn ép. Làm nghiệm
pháp căng dây thần kinh của đám rối cánh tay thì đau và tê tăng.
- Rối loạn phản xạ kiểu rễ cổ: giảm hoặc mất phản xạ gân xương do rễ
thần kinh chi phói bị chèn ép: Phản xạ gân cơ nhị đầu cánh tay (C5),
phản xạ trâm quay (C6), phản xạ cơ tam đầu (C7)
|
|
1. Điều trị nội khoa.
1.1. Bất động.
- Là biện pháp cần thiết trong điều trị đau thắt lưng cấp và thoát vị
đĩa đệm nặng. Nằm bất động tương đối trên phản cứng, ở tư thế ngửa, 2
chân hơi co ở khớp gối và khớp háng để chùng cơ và giảm áp lực nội đĩa
đệm (có thể cho gối tròn đệm vào vùng khoeo). Thời gian bất động 1-2
ngày, nếu nặng có thể 5-6 ngày. Khi gần hết thời gian bất động thì bắt
đầu cho vận động tăng dần: ngồi dậy, đi lại, tập một số động tác thể dục
nhẹ.
- Khi nằm bất động lâu cần đề phòng loét điểm tỳ: bằng co duỗi chân, nghiêng người nhẹ nhàng, đệm lót lớp chăn mỏng.
1.2. Thuốc giảm đau chống viêm, giãn cơ.
- Thuốc giảm đau: uống hoặc tiêm tùy mức độ, các thuốc có thể dùng là:
+ Aspirin pH8 0,5 liều 1-3g/24h chia 2-3 lần.
+ Thuốc khác như: Voltaren, Profenid, Mobic, Vioxx...
Cần chú ý chọn liều thấp nhất có tác dụng, theo dõi chặt chễ các tác dụng phụ.
Có thể dùng các thuốc xoa bóp hoặc dán ngoài như: thuốc mỡ nọc rắn,
methyl salicylat, cao dán, cồn xoa bóp... Không nên dùng các thuốc có
steroid.
- Thuốc giãn cơ:
nếu có co cơ cạnh sống gây vẹo và đau nhiều thì dùng các thuốc giãn cơ
vân như: Myonal 50mg ngày 3 lần mỗi lần 1 viên, Mydocalm 50mg ngày 3 lần
mỗi lần 2 viên, Décontracyl 250mg ngày 3 lần mỗi lần 2 viên, Diazepam
5mg ngày uống một lần 1-2 viên trước khi đi ngủ.
|
|
1. Đại cương.
Cơ chế bệnh sinh của thoái hoá cột sống là sự kết hợp của hai quá
trình: thoái hoá sinh lý tự nhiên theo lứa tuổi và thoái hoá bệnh lý mắc
phải (chấn thương, rối loạn chuyển hoá, miễn dịch, nhiễm khuẩn...).
- Thoái hoá đốt sống (Spondylosis):
+ Là sự thoái hoá các thành phần của xương cùng các dây chằng cột
sống. Dây chằng quanh cột sống bị kéo giãn ra và đóng vôi ở đoạn sát bờ
đĩa đệm để tạo nên các gai xương. Mỏ xương thường xuất hiện ở bờ trước
thân đốt sống, ít khi thấy ở bờ sau, nếu có thì dễ chèn ép vào tủy sống.
Quá trình thoái hoá này nặng dần theo tuổi dẫn đến phì đại mỏm khớp và
lỏng lẻo dây chằng.
+ Hậu quả của thoái hoá đốt sống dẫn đến hẹp lỗ ghép (do mọc gai
xương, phì đại mỏm khớp, hẹp đĩa đệm); trượt thân đốt (do mỏm khớp thoái
hoá nặng, dây chằng lỏng lẻo, hở eo) và hẹp ống sống.
- Thoái hoá đĩa đệm (Disc degeneration): gồm tổn thương nhân
nhày mất nước, vòng sợi giảm chiều cao và có nhiều vết rách (nứt), dẫn
tới thoát vị đĩa đệm (làm ép rễ thần kinh, chèn tuỷ hoặc đuôi ngựa).
- Hư xương sụn cột sống (Osteochondrosis): Là sự thoái hoá
loạn dưỡng đĩa đệm và sự phản ứng của các tổ chức kế cận (dày mâm sụn,
co cứng cơ cạnh sống, đau rễ thần kinh), biến đổi tăng dần theo lứa
tuổi.
- Bốn giai đoạn của hư xương sụn cột sống:
Giai đoạn 1: biến đổi nhân nhày, co cứng cơ do bị kích thích.
Giai đoạn 2: cột sống mất vững, hẹp đĩa đệm, giả trượt đốt sống.
Giai đoạn 3: vòng sợi bị vỡ, gây lồi hoặc thoát vị đĩa đệm.
Giai đoạn 4: mỏ xương, cầu xương, hẹp lỗ ghép.
Nhìn chung: các bệnh lý đau cột sống đều liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến tổn thương thoái hoá và thoát vị đĩa đệm.
|
|
1. Đại cương.
1.1. Định nghĩa.
Thoát vị đĩa đệm là tình trạng nhân nhầy đĩa đệm cột sống thoát ra
khỏi vị trí bình thường trong vòng sợi chèn ép vào ống sống hay các rễ
thần kinh sống. Về giải phẫu bệnh có sự đứt rách vòng sợi, về lâm sàng
gây nên hội chứng thắt lưng hông điển hình.
1.2. Bệnh căn và bệnh sinh.
- Yếu tố dịch tễ học:
+ Về giới: nam nhiều hơn nữ, thường chiếm tới 82%.
+ Tuổi: thường xảy ra ở lứa tuổi lao động từ 20-49 chiếm tới trên 90%.
+ Vị trí hay gặp: thường xảy ra ở đĩa đệm L4-L5 và L5-S1, do hai đĩa đệm này là bản lề vận động chủ yếu của cột sống.
+ Nghề nghiệp: đa số là những người lao động chân tay nặng nhọc.
- Yếu tố chấn thương: là nguyên nhân hàng đầu. Trong đó chấn thương
cấp tính, mạn tính và vi chấn thương đều là những nguyên nhân gây ra
thoát vị đĩa đệm. Tuy nhiên chấn thương gây ra thoát vị đĩa đệm chỉ phát
sinh khi bệnh nhân bị bệnh lý hư xương sụn cột sống thắt lưng hoặc
thoái hóa đĩa đệm.
|
|
1. Tổng quan:
Hội chứng ống cổ tay được James Paget mô tả từ giữa thế kỷ 18. Đây là
một rối loạn thần kinh ngoại vi thường gặp nhất, khoảng 3% người trưởng
thành ở Mỹ có biểu hiện hội chứng này. Ða số bệnh nhân hay than phiền
về việc các ngón tay bị đau, tê rần xuất hiện sau một chấn thương vùng
cổ tay hay cơn đau thấp khớp. Ðặc biệt người ta thấy hội chứng này xuất
hiện vào giữa hay cuối thai kỳ của nhiều sản phụ. Nhiều tác nhân tại chổ
và toàn thân có liên quan đến sự phát triển hội chứng ống cổ tay. Những
tác nhân này có thể gây chèn ép thần kinh giữa từ bên ngoài như chấn
thương, hoặc từ bên trong như viêm bao hoạt dịch thứ phát từ các bệnh hệ thống như thấp khớp.
2. Cơ chế sinh bệnh:
Về
giải phẫu học, thần kinh giữa đi chung với những gân cơ gấp của các
ngón tay trong ống cổ tay. Ống cổ tay được tạo bởi mạc giữ gân gấp và
các vách chung quanh là bờ của các xương cổ tay. Chính vì nằm trong một
cấu trúc không co giãn được nên khi có sự tăng thể tích của các gân gấp
bị viêm (hay các tư thế gấp duỗi cổ tay quá mức và thường xuyên) thì sẽ
tạo một lực chèn ép lên các mạch máu nuôi nhỏ đi sát bên dây thần kinh,
gây ra tình trạng thiểu dưỡng. Lúc này sẽ xuất hiện triệu chứng tê bàn
tay vì các sợi thần kinh cảm giác bị ảnh hưởng trước. Sau đó các nhánh
vận động sẽ bị tác động tạo ra sự yếu hay liệt cơ mà nó chi phối. Với
thần kinh giữa thì gây teo cơ mô cái do yếu liệt cơ đối ngón, cơ gấp
ngón cái ngắn. Người bệnh cầm nắm đồ vật trong lòng bàn tay bị yếu, dễ
rớt là vì thế. Nếu tình trạng chèn ép kéo dài sẽ làm tổn thương thần
kinh không hồi phục. Ðiều này có nghĩa là dù có giải ép thì các cử động
cầm nắm cũng không phục hồi trở lại được như ban đầu. Chính vì thế chỉ
định phẫu thuật là tuyệt đối nếu bệnh nhân có tình trạng yếu liệt cơ gò
cái để tránh tình trạng quá trễ không phục hồi hay tổn thương thêm của
dây thần kinh giữa.
Với hội chứng ống cổ tay sau chấn thương, nguyên nhân có thể là sự
hẹp lòng ống cổ tay do gãy lệch xương, như gãy đầu dưới xương quay; Trật
khớp như trật xương bán nguyệt ra trước. Thể tích và chu vi ống cổ tay
nhỏ lại khiến thần kinh giữa bị chèn ép. Lúc này không chỉ cắt mạc giữ
gân gấp mà còn phải điều chỉnh lại khối can xương lệch hay bị trật thì
mới hết chèn ép.
|
|
|
|
|
|
|
Trang 1 trong tổng số 3 |
|
|
Chuyên gia tư vấn
ĐT:       04.3569.0442      04.3569.0443      04.8587.4711Hotline       1900.545557Thắc mắc hỏi đáp       01664.968.968      0943.986.986      0943.968.968
Các bệnh khác
Bệnh Động Kinh
Chữa bệnh động kinh hiệu quả nhất
Bệnh Ung Thư
Chữa Bệnh Ung Thư hiệu quả
Bệnh Nam Khoa
Vô sinh, Hiếm Muộn, Yếu sinh lý, Địa chỉ chữa hiếm Muộn tốt Nhất
Bệnh Động Kinh
Bệnh động kinh, địa chỉ chữa Bệnh Động Kinh Hiệu quả Tại Hà nội
Chữa Bệnh Xoang
Bệnh Xoang chữa Bệnh Xoang tốt nhất Hà nội
|